Trên cơ sở nguyên tắc quý trọng chủ quyền và quyền tài phán, trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại về ích lợi, các nhà nước và tổ chức quốc tế có thẩm quyền có nghĩa vụ tạo điều kiện tiện lợi cho việc hiệp tác quốc tế về mặt nghiên cứu khoa học biển vì mục đích hòa bình
Công tác nghiên cứu khoa học biển trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm đất liền được tiến hành với sự thỏa thuận của Việt Nam; - Trong những trường hợp thường nhật, Việt Nam, với nhân cách là quốc gia ven biển, có thể thỏa thuận cho thực hành các dự án nghiên cứu khoa học biển mà các nhà nước khác hay các tổ chức quốc tế có thẩm quyền dự kiến tiến hành trong vùng đặc quyền kinh tế hay trên thềm đất liền của mình theo đúng Công ước, nhằm vào những mục đích hoàn toàn hòa bình và để tăng thêm tri thức khoa học về môi trường biển, vì ích của toàn thể loài người.
- Các bổn phận của quốc gia và tổ chức quốc tế có thẩm quyền thực hành công tác nghiên cứu khoa học biển trong vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa của nhà nước ven biển theo Điều 249 Công ước Luật biển 1982. Công tác nghiên cứu khoa học biển ở trong hải phận chỉ được tiến hành với sự thỏa thuận rõ ràng của Việt Nam và trong các điều kiện do Việt Nam ấn định; - Trong khi quá cảnh, các tàu bè nước ngoài, kể cả tàu thuyền chuyên dùng cho nghiên cứu khoa học biển hay cho đo đạc thủy văn, không được tiến hành bất kỳ hoạt động nghiên cứu hoặc đo đạc nào nếu không được phép trước của Việt Nam.
Trong tình hình Biển Đông bây giờ, với những âm mưu khó lường của Trung Quốc, Việt Nam và các nhà nước khác cần thận trọng, cân nhắc kỹ lưỡng từng bước đi, từng quyết định.
TS. * Các nguyên tắc chung chi phối việc chỉ đạo công tác nghiên cứu khoa học - Việc nghiên cứu khoa học biển chỉ được phép thực hành vì những mục đích hoàn toàn hòa bình; - Công tác này được tiến hành bằng cách dùng các phương pháp và dụng cụ khoa học ăn nhập, hiệp với Công ước; - Công tác này không ngăn cản một cách vô lý những việc dùng biển hợp pháp khác hạp Công ước và nó phải được quan hoài đến trong việc sử dụng này; - Công tác này được tiến hành theo đúng mọi quy định ứng được duyệt để thi hành Công ước, kể cả các quy định nhằm bảo vệ và gìn giữ môi trường biển; - Bên cạnh đó, công tác nghiên cứu khoa học biển không tạo ra cơ sở pháp lý cho yêu sách đối với bất kỳ lĩnh vực nào của môi trường biển hay các tài nguyên của nó (Điều 241 Công ước Luật biển 1982).
Đặc biệt, với vị thế và tham vọng hiện thời của Trung Quốc, Việt Nam cũng như các nhà nước sở quan cần có kế hoạch cụ thể và tham gia tham gia Dự án này; không để Trung Quốc lợi dụng, thao túng Dự án để phục vụ cho những tham vọng chủ quyền phi lý của họ trên Biển Đông.
# Các nước trong khu vực, giảm bớt sự găng đang diễn ra tại Biển Đông nếu được các quốc gia định hướng đúng đắn và tuân thủ luật pháp quốc tế.
Là một thành viên của Hiến chương liên hiệp Quốc và Công ước Luật biển 1982, Việt Nam ủng hộ các hoạt động hoàn toàn vì mục đích nhân đạo, vì ích con người trên cơ sở tuân đúng các quy định của pháp luật. Để tạo điều kiện cho việc nghiên cứu vừa không làm phương hại đến chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán hợp pháp của Việt Nam trên Biển Đông, chúng ta phải: - Luôn khẳng định rõ ràng về chủ quyền của Việt Nam đối với các vùng biển, đảo trên Biển Đông, đặc biệt là đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa; luôn đặt vấn đề chủ quyền và ích lợi nhà nước lên hàng đầu và tách bạch rõ vấn đề chủ quyền, lợi ích biển-đảo của quốc gia với vấn đề nghiên cứu khoa học biển hoàn toàn vì mục đích hòa bình, nhân đạo; vấn đề nghiên cứu khoa học biển không được làm phương hại đến chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của quốc gia ven biển và không tạo ra bất kỳ cơ sở pháp lý cho yêu sách biển của các nhà nước; - Nếu thực hiện nghiên cứu trong các lãnh hải, đảo thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam thì phải trọng, tuân và thực hành theo các quy định của pháp luật quốc tế, luật pháp Việt Nam; - Việt Nam và các nhà nước liên can khác cần tham gia hăng hái, chủ động vào dự án; cùng đóng góp nhân lực, vật lực, tham gia xây dựng, khai triển, vận hành, giám sát Trung tâm nhằm thực hành quyền và trách nhiệm của mình, đồng thời bảo đảm mục đích hoạt động của trọng điểm, tránh việc Trung tâm bị lợi dụng cho những mục đích khác.
Kết luận Vì mục đích hòa bình, vì ích lợi con người và phát triển khoa học công nghệ, các nhà nước khu vực đã cùng thỏa thuận và đồng ý xây dựng nên trọng điểm cảnh báo sóng thần khu vực Biển Đông, dưới sự quản lý chung của IOC và tuân theo các quy định của luật pháp quốc tế. * Quy trình thực hiện việc nghiên cứu khoa học biển: - Việt Nam, với nhân cách là quốc gia khu vực có hệ trọng (và là nhà nước có chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán nếu việc nghiên cứu được thực hành tại các hải phận, đảo Việt Nam), có quyền được cung cấp đầy đủ các thông tin về dự án trọng điểm cảnh báo và giảm nhẹ thiên tai sóng thần khu vực Biển Đông (Điều 248 Công ước Luật biển 1982); và Việt Nam cần nắm rõ các quyền và bổn phận của mình; - Việt Nam cần lưu ý về kì hạn trình ý kiến về việc nghiên cứu khoa học biển: Các nhà nước hay các tổ chức quốc tế có thẩm quyền có thể thực hành một dự án nghiên cứu khoa học biển sau một hạn 6 tháng kể từ ngày các thông tin cấp thiết theo Điều 248 đã được thông tin cho nhà nước ven biển, trừ khi trong một hạn 04 tháng kể từ lúc nhận được các thông tin trên, quốc gia ven biển đã báo cho quốc gia hay tổ chức yêu cầu thực hành công tác nghiên cứu biết một số nội dung quy định trong Điều 252 (Việc đồng ý mặc nhiên) Công ước Luật biển 1982.
Hợp pháp của nhà nước. Việc nghiên cứu khoa học biển này không tạo nên bất kỳ cơ sở pháp lý hay danh nghĩa nào cho yêu sách về biển hoặc tài nguyên biển. Điều này cũng can hệ đến nội dung các quy định rưa rứa về tính bất hợp pháp của những yêu sách đối với biển cả (Điều 89, 90) và vùng (khoản 1, 3 Điều 137 Công ước Luật biển 1982). - Là nhà nước ven biển, Việt Nam cũng không thể thi hành quyền tùy ý từ khước đối với các dự án nghiên cứu khoa học biển được tiến hành theo đúng phần này trên phần thềm lục địa cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải quá 200 hải lý, ngoài các khu vực đặc biệt mà bất kỳ lúc nào các nhà nước ven biển cũng có thể chính thức chỉ định làm nơi hoặc sẽ làm nơi để tiến hành công việc khai hoang hay dò la đi vào chi tiết trong một thời hạn hợp lý.
- Các tranh chấp liên can đến giảng giải hay ứng dụng quy định của Công ước về nghiên cứu khoa học biển sẽ được giải quyết theo các Mục 2 (Các thủ tục bắt buộc dẫn tới các quyết định buộc) và Mục 3 (Các giới hạn và ngoại lệ đối với việc áp dụng Mục 2) Phần XV Công ước Luật biển 1982. Việc xây dựng và triển khai trọng điểm cảnh báo sóng thần khu vực Biển Đông có thể sẽ mang lại nhiều ích lợi cho quần chúng.
Vì mục đích này, các quốc gia ven biển duyệt các lệ luật và thủ tục bảo đảm sẽ cho phép trong những thời gian hợp lý và sẽ không từ khước một cách phi lý; - Tuy nhiên, theo quy định của Công ước Luật Biển năm 1982, là quốc gia ven biển, Việt Nam có thể tùy ý mình không cho phép thực hiện một dự án nghiên cứu khoa học biển do một quốc gia khác hay một tổ chức quốc tế có thẩm quyền đề nghị tiến hành ở vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm đất liền của mình trong các trường hợp: + Nếu dự án có ảnh hưởng trực tiếp đến việc thăm dò và phá hoang các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật và không sinh vật; + Nếu dự án có dự kiến công việc khoan trong thềm lục địa, sử dụng chất nổ hay đưa chất độc hại vào trong môi trường biển; + Nếu dự án dự định việc xây dựng, khai thác hay dùng các đảo nhân tạo, thiết bị và công trình đã nêu tại Điều 60, 80; + Nếu những thông tin được thông tin về tính chất và mục tiêu của dự án theo Điều 248 không đúng, hoặc nếu quốc gia hay tổ chức quốc tế có thẩm quyền, tác giả của dự án không làm tròn những trách nhiệm đã cam kết với nhà nước ven biển sở quan trong một dự án nghiên cứu trước đây.
Trong các vòng họp, cấp chuyên viên hay cấp Nhà nước, chính thức hay không chính thức, chúng ta cũng cần tổ chức đoàn tham dự bao gồm của chuyên gia kỹ thuật và chuyên gia pháp lý, nhằm bảo đảm quyền và lợi. Trong những vận hạn hợp lý, Việt nam có thể thông báo các khu vực mà mình chỉ định cũng như tuốt luốt những thay đổi có hệ trọng, nhưng không có nghĩa vụ cung cấp các chi tiết về các công việc trên các khu vực này.
PGS. - Tuy nhiên, việc vận dụng quy định vừa nêu không phương hại đến các quyền ở thềm đất liền được dìm cho các nhà nước ven biển ở Điều 77, theo đó, các quyền này không phụ thuộc vào sự chiếm hữu thật sự hay danh nghĩa nào, cũng như vào bất cứ tuyên bố rõ ràng nào. Chừng nào các tranh chấp chưa được giải quyết đúng theo điều trên, thì quốc gia hay tổ chức quốc tế có thẩm quyền nghiên cứu khoa học biển không được phép thực hiện hay nối việc nghiên cứu khoa học nếu không có sự đồng ý rõ ràng của nhà nước ven biển sở quan.
Việt Nam và các nhà nước khác trong khu vực đều có thẩm quyền quan hoài, tham dự và giám sát nhằm đảm bảo cho việc nghiên cứu khoa học biển phải được tiến hành theo đúng Công ước Luật biển 1982. PGS. - Các quốc gia nên có điều khoản thỏa thuận tuyển lựa cơ săng phán quốc tế cụ thể trong trường hợp có tranh chấp xảy ra.
* Việc nghiên cứu khoa học biển trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm đất liền của Việt Nam - Việt Nam có quyền quy định, cho phép và tiến hành các công tác nghiên cứu khoa học biển trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo các quy định tương ứng của Công ước.
Nguyễn Bá Diến, chủ toạ Hội đồng Viện Nghiên cứu khoa học Biển và Hải đảo, Giám đốc trọng điểm Luật biển và Hàng hải quốc tế, Chủ nhiệm Bộ môn Luật Quốc tế, Đại học quốc gia Hà Nội Trong quá trình thực hiện dự án, Việt Nam cần đặc biệt lưu ý các quy định của pháp luật quốc tế, pháp luật Việt Nam hệ trọng đến lĩnh vực này như: Công ước Luật biển 1982, Luật biển Việt Nam 2012,.
Nguyễn Bá Diến. Việc đặt và dùng các thiết bị hay phương tiện nghiên cứu khoa học thuộc bất kỳ kiểu nào không được gây ngăn cản cho việc hàng hải theo các con đường quốc tế thường dùng. Kì trước: Quyền và nghĩa vụ của quốc gia ven biển trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học biển Theo quy định của Công ước Luật biển 1982, vơ các nhà nước, tổ chức quốc tế có thẩm quyền, đều có quyền tiến hành các cuộc nghiên cứu khoa học biển, với điều kiện trọng các quyền và bổn phận của các nhà nước khác như đã được quy định trong Công ước.
TS. * Việc nghiên cứu khoa học biển nằm trong hải phận hoặc vùng nước quần đảo của Việt Nam: - Việt Nam có đặc quyền quy định, cho phép và tiến hành các công tác nghiên cứu khoa học biển ở trong lãnh hải của mình. Cụ thể: * Quyền và nghĩa vụ chung của nhà nước ven biển: - Các nhà nước ven biển có bổn phận tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu khoa học biển, có bổn phận tạo điều kiện thuận lợi cho sự hợp tác quốc tế về mặt nghiên cứu khoa học biển vì mục đích hòa bình trên cơ sở nguyên tắc coi trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của nhà nước ven biển; - nhà nước ven biển có quyền dự vào dự án nghiên cứu khoa học biển nếu muốn; có quyền được cung cấp thông tin về dự án; có quyền xúc tiếp với cả thảy các mẫu vật, dữ liệu thu được trong khuôn khổ dự án; - quốc gia ven biển có quyền chối từ, không cho phép, đình chỉ hoặc chấm dứt thực hiện dự án trong các trường hợp đã được quy định cụ thể trong Công ước như: việc nghiên cứu không được tiến hành theo đúng các thông báo đã được thông tin; hoặc các quyền của quóc gia ven biển đối với dự án nghiên cứu khoa học biển không được coi trọng.
No comments:
Post a Comment